Về miền sơn cước Đăng Hà
Từ thị xã Đồng Xoài, chúng tôi ngược lên vùng cao Bù Đăng rồi rẽ về phía Đông để đến Đăng Hà, một miền quê khó khăn nhất nhì tỉnh. Vượt hơn 35km trên Quốc lộ 14 đang bị cày xới nát tung để tới ngã ba Sao Bộng (Đức Liễu). Nhưng từ ngã ba này vào đến Đăng Hà dài hơn 38km mới thực sự là chặng đường đầy khổ ải với mặt đường bị băm nát, những hố sâu đọng nước, những lớp bùn đặc quánh dày đến nửa mét.
Đón chúng tôi tại trụ sở UBND xã, ông Hoàng Đình Nhất, chủ tịch UBND xã Đăng Hà hồ hởi nói: “Hôm nay UBND xã đi giao đất cho các hộ theo chương trình 134, mời các anh cùng đi luôn. Bà con nhận đất phấn khởi lắm họ đến từ sáng sớm”. Vậy là chiếc Ford hai cầu lại gồng mình thêm 20km để đến khu đất 134.

Đường vào Đăng Hà ngày mưa
Nói về kinh tế, ông Nhất nói: “Cơ sở hạ tầng đã vậy, kinh tế của Đăng Hà còn khó khăn hơn. Người dân Đăng Hà sống chủ yếu nhờ vào cây lúa nước. Nhưng do không có hệ thống kênh mương nội đồng nên năng suất lúa rất thấp chỉ 3 tấn/ha. Đặc biệt, vào mùa mưa, đất nông nghiệp của Đăng Hà bị ngập úng, ngày nắng thì trở nên khô cằn, trồng cây gì cũng khó sống”. Đúng như lời ông Nhất nói, trong những ngày lưu tại Đăng Hà, chúng tôi nhận thấy, miền đất này còn khá hoang sơ, nhiều hộ dân vẫn còn sinh sống trong các căn nhà tạm bợ. Sản xuất thì manh mún nhỏ lẻ, những rẫy mì, ruộng lúa cũng xơ xác vì đất đai bạc màu. Mùa này Đăng Hà có tổng diện tích cây trồng khoảng 3.000 ha. Trong đó, cây lúa nước khoảng 687 ha, hoa màu 279 ha, cây thực phẩm khoảng 16 ha. Toàn xã chỉ có gần 950 ha điều, cao su 60,7 ha, cà phê 12 ha và gần 3 ha cây tiêu. Hỏi người dân về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi nhưng ai cũng lắc đầu vì đặc điểm của Đăng Hà là mưa ngập, nắng hạn nên trồng cây gì, nuôi con gì cũng dựa vào ông trời là chính.

Cánh đồng lúa Đăng Hà rất cần hệ thống thủy lợi
Đăng Hà hiện đã có trường cấp 2-3 để cho 1.778 con em trong xã không còn cảnh lội ngược ra Thống Nhất, hay vượt sông Đồng Nai qua Cát Tiên để học nhưng vẫn còn vô vàn khó khăn như: thiếu đường nhựa, thiếu điện lưới quốc gia, tỷ lệ người mù chữ vẫn còn nhiều, rồi tình trạng tảo hôn trong một số dân tộc ít người. Khi tâm tình với chúng tôi, ông Hoàng Đình Nhất chỉ ao ước một điều: “Mong Đăng Hà có được hệ thống kênh mương nội đồng để thay đổi cơ cấu cây trồng. Thay đổi được cây trồng là thay đổi được đời sống. Khi kinh tế đã thay đổi thì bộ mặt nông thôn đã khởi sắc và nhận thức của người dân cũng sẽ thay đổi”. Ông Nhất, ông Lời và những vị lãnh đạo xã khác so sánh, một ha lúa nước chỉ thu về 10 triệu đồng/năm, phần lãi chỉ khoảng 4-5 triệu đồng. Nhưng nếu tiêu được úng, tưới được hạn, xã sẽ vận động người dân chuyển sang trồng ngô sẽ thu về 70 triệu đồng/ha/năm như Phước Cát đang làm. Còn những vườn điều, cây ăn trái cằn cỗi, thì vận động bà con trồng tre, lồ ô lấy măng, bán cây hiệu quả kinh tế gấp bội lần.
Tạm biệt Đăng Hà, bỏ lại những cánh rừng, đồi trọc bạc màu, những cung đường tràn ngập bùn đất, chúng tôi mang theo trăn trở, khát vọng của người dân miền sơn cước.
Tấn Phong

.png)










